|
Xem
số: 1|2|3|4|5|6|7|8|9|10|11|12|13|14|15|16|17|18|19|20|21|22|23|24|
Số
01 Tháng 10 2003
Các bạn thân mến!
Đây là
bức thư đầu tiên của Tổ chức Phục vụ Năng Lượng Mặt Trời
chúng tôi gửi tới các bạn. Chào mừng các bạn đến với gia
đình Năng Lượng Mặt Trời của chúng tôi. Điều trước tiên
chúng tôi muốn kể cho các bạn nghe một cách vắn tắt về
những gì đang diễn ra trong Dự án Năng Lượng Mặt Trời
của chúng tôi, nhưng chúng tôi cũng muốn các bạn hiểu
sâu sắc về khu vực chúng tôi đang triển khai Dự
án.
Công
việc về Năng Lượng Mặt Trời của chúng
tôi
Sau ba năm việc cộng tác
với Đại Học Đà Nẵng đã kết thúc, nhưng chúng tôi rất vui
khi tiến sĩ Hùng, giám sát Dự án muốn chúng tôi gia hạn
việc cộng tác thêm 5 năm nữa. Trong ba năm qua chúng tôi
đã giúp trao 500 bếp Năng Lượng Mặt Trời đến 500 hộ gia
đình có hoàn cảnh khó khăn. Gần 79% tổng số bếp được
trao đến nay vẫn còn sử dụng tốt. Hầu hết chúng tôi
triển khai Dự án ở bốn huyện thuộc tỉnh Quảng Nam và sẽ mở rộng Dự án ở một số vùng
miền khác trong năm 2004. Những tháng thu-đông này chúng
tôi đang lên kế hoạch sản xuất 400 chiếc bếp mới, 15
chiếc bếp Năng
Lượng Mặt Trời hình
parabol và một số mô hình chưng cất nước bẩn thành
nước sinh hoạt.
Một thử thách
và khó khăn sắp tới là việc sẽ bắt đầu chương
trình bếp Năng Lượng Mặt Trời với
những đồng bào
dân tộc ít người.
Chúng tôi cũng cần nhiều người Việt Nam cùng cộng
tác hơn nữa.
Tiến sĩ
Hùng
Đây là bức ảnh về những thành viên hiện
nay của nhóm Phục Vụ Năng Lượng Mặt Trời trong kỳ nghỉ
cuối mùa hè này:
|
Biểu
diễn một đoạn kịch ngắn
 |
Từ
trái qua phải:
Anh
Giáp, sinh viên thể thao đang làm việc cho Tổ chức Phục
vụ Năng Lượng Mặt Trời của chúng tôi.
Anh
Bích, giám đốc thuc hien Dự án.
Anh
Liên, người lo mảng nghiên cứu ứng dụng bếp hình
parabol
Anh
Mai, nhân viên bảo trì sửa chữa và sản xuất cùng làm
việc với anh Hoàng
Anh
Hans, đến từ xứ sở hoa Tulíp Hà Lan, cố vấn Dự án và
cùng làm việc với anh Bích
Anh
Hoàng, một người tàn nhưng không phế chịu trách nhiệm sả
xuất bếp Năng Lượng Mặt Trời.
Lịch
sử của một vùng đất
Trong suốt mùa hè này
chúng tôi được những người bạn của chúng tôi kể cho
chúng tôi nghe về Thành phố Đà Nẵng, một cửa ngõ quan
trọng vào Việt Nam. Chúng tôi biết rằng mỗi thành phố ở
Việt Nam đều có một vị thế quan trọng, và chúng tôi muốn
gửi tới các bạn một vài lý do giải thích tại sao Thành
phố Đà Nẵng cũng chỉ có một không có hai. Bởi thế chúng
tôi làm một cuộc nghiên cứu về nguồn nho nhỏ và sử dụng
những nguồn tư liệu lịch sử từ Đại Học Duy Tân ở Thành
phố Đà Nẵng và một vài thư viện sách báo khác.
Những
thương cảng chính lúc bấy
giờ
Điều trước tiên bạn phải
hiểu rằng Đà Nẵng nối liền với phố cổ Hội An. Vào thế kỷ
16 và thế kỷ 17 Hội An là một thương cảng sầm uất. Đà
Nẵng đóng vai trò là cầu nối với thương cảng chính này.
Lúc bấy giờ có hai con đường để cập cảng Hội An là Cửa
Đại (Hội An) và Cửa Hàn (Đà Nẵng). Những tàu buôn trọng
tải trên 100 tấn khó mà vào được bằng đường Cửa Đại bởi
vậy muốn vào được Hội An chúng phải đi băng qua Cửa Hàn.
Hàng hoá trên các tàu buôn của thương nhân được chuyên
chở tới Hội An trên sông Cồn Cỏ (con sông nay đã bị bồi
lấp bởi phù sa). Vào cuối thế kỷ 18, thương cảng Hội An
trở nên suy tàn, Đà Nẵng nhanh chóng chiếm lấy vị trí là
thương cảng trung tâm của khu vực này với dân cư đông
đúc. Hội An được xem như một thương cảng sầm uất nhộn
nhịp từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 18, vào đầu thế kỷ 19 Đà
Nẵng trở thành một hải cảng thực sự nơi những chủ tàu
Tây Dương ký kết quan hệ thông thương với những thương
gia Việt Nam.
Cảng
biển Đà Nẵng vào thế kỷ 18
Những
cuộc chiến tranh đẫm
máu
Trong những cuộc chiến
tranh giữa triều đình Đại Việt và Vương quốc Chămpa (từ
thế kỷ 14 đến thế kỷ 15), cuộc chiến tranh phong kiến
Đàng Trong-Đàng Ngoài (Trịnh-Nguyễn phân tranh từ thế kỷ
16 đên thế kỷ 18), Đà Nẵng đóng vai trò hải cảng chiến
lược quan trọng và là căn cứ quân sự được xem như là một
đầu cầu và là bàn đạp để tiến hành những cuộc tấn công.
Trong âm mưu xâm chiếm các nước Đông Nam Á, các nước
phương Tây như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Anh, Pháp đã
phải trả giá quá đắt bằng nhiều lần tấn công vào Đà Nẵng
bởi vị trí chiến lược hiểm trở về quân sự của vùng đất
này. Đà Nẵng còn được xem là một chiến luỹ bảo vệ cho
thành trì Huế lúc bấy giờ. Thực dân Pháp bắt đầu cuộc
chiến tranh xâm lược Việt Nam bằng cuộc tấn công vào
cảng Đà Nẵng ngày 01/9/1858. Thực dân Pháp đã bị sa lầy
trong kế hoạch “đánh nhanh, thắng nhanh” khi tấn công Đà
Nẵng. Những binh đoàn lính Mỹ đầu tiên chính thức đổ bộ
vào Việt Nam qua cảng Đà Nẵng vào ngày
09/2/1965.
Thương
mại và Du lịch
Trong suốt cuộc chiến
tranh người Mỹ tiến hành ở Việt Nam, sân bay Đà Nẵng là
một trong những sân bay đông đúc nhất trên thế giới. Đà
Nẵng được ví như là Sàigòn của miền Bắc Việt Nam Cộng
hoà thời đó. Nó đã có những bước nhảy vọt về kinh tế,
những dãy nhà hàng mọc lên san sát, giao thông nhộn nhịp
tấp nập, những cửa hiệu lấp lánh tráng lệ ánh đèn.
Thương mại bị suy tàn trông thấy khi chiến tranh kết
thúc và nó trở thành một thành phố bị tụt hậu xoàng
xĩnhayTrong suốt những năm sau này Đà Nẵng đã lấy lại
được vị thế hào hoa trước kia và vẫn là một trong ba
Cảng Hàng không Quốc tế lớn nhất ở Việt Nam. Cơ sở hạ
tầng của Đà Nẵng cũng đang thay da đổi thịt từng ngày,
tạo tiền đề cho việc trở thành cửa ngõ chính để đưa du
khách đến với những danh lam thắng cảnh vùng phụ cận như
Cố đô Huế, đèo Hải Vân, bãi biển Lăng Cô, Vườn Quốc gia
Bạch Mã, phố cổ Hội An, Cù lao Chàm, núi Bànà, Ngũ Hành
Sơn, Cổ viện Chàm, và Thánh địa Mỹ
Sơn.
Những
tôn
giáo
Có nhiều tôn giáo được
truyền bá vào Việt Nam thông qua cửa ngõ Đà Nẵng. Vào
thế kỷ thứ hai sau Công nguyên, nơi đây đã từng là Vương
quốc Chămpa ảnh hưởng của nền văn hoá Ấn Độ. Sự pha trộn
kết hợp giữa các nền văn hoá và tôn giáo khác nhau như
đạo Phật, đạo Hinđu, và còn thêm đạo Hồi đã ảnh hưởng
sâu sắc lên nền văn hoá Chămpa. Các vị vua của Vương
quốc Chămpa được đặt tên theo ảnh hưởng của nền văn hoá
Ấn Độ và được tôn thờ như những vị thánh. Vương quốc
Chămpa thịnh vượng cho đến đầu thế kỷ 15. Cuối thế kỷ 14
đầu thế kỷ 15 Vương quốc Chămpa bị phong kiến Việt Nam
thôn tính. Trong ba thế kỷ chùa Phổ Đà đang truyền giảng
kinh Phật phái Đại Thừa cho những tăng ni phật tử ở địa
phương. Ngày nay, nơi đây là thiền viện để giảng đạo cho
các phật tử ở tỉnh Quảng Nam. Những hoạt động của đạo
Công giáo không được ghi lại nhưng có những chứng cứ
không chính thức được ghi lại rằng vào thế kỷ 16 những
nhà truyền bá đạo Thiên chúa từ Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha
và Pháp đã đặt chân đến Việt Nam. Sự ảnh hưởng của họ
bấy giờ không sâu rộng. Sự trở lại của những nhà truyền
giáo được đánh dấu bằng sự xuất hiện của nhà truyền giáo
người Bồ Đào Nha Alexandre de Rhodes, người đã sáng tạo
ra chữ Quốc ngữ hiện nay của Việt Nam từ bảng chữ cái
La-tinh, ở Hội An vào năm 1624. Đạo Thiên chúa chính
thức xuất hiện vào đầu thế kỷ 20 năm 1911 ở Đà Nẵng và
sau đó là ở Hải Phòng, Hà Nội và đến năm 1918 thì xuất
hiện ở Sàigòn và các thành phố khác ở miền
Nam.
Đà Nẵng bao đời là cửa ngõ chiến lược độc nhất vô nhị
của Việt Nam.
Và đây cũng là bức thư
đầu tiên của Tổ chức Phục vụ Năng Lượng Mặt Trời. Chúng
tôi hi vọng các bạn sẽ ủng hộ chúng tôi. Xin hãy liên
lạc với chúng tôi.
Chào thân ái,
Nhóm phục vụ Năng Lượng Mặt
Trời
Kêu
gọi để phục vụ
Xem
số: 1|2|3|4|5|6|7|8|9|10|11|12|13|14|15|16|17|18|19|20|21|22|23|24| |